|
Kinh nghiệm mở kênh phân phối: Xây
đường tới người tiêu dùng
Hiện nay người tiêu dùng Việt Nam đang rất khó định
hướng trong quyết định mua hàng, v́ phải đối mặt với hàng
loạt sản phẩm có tính năng tương tự, đồng thời với các
chương tŕnh khuyến măi ồ ạt và quảng cáo rầm rộ.
Vậy đâu là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp trong t́nh h́nh này? Th.S Nguyễn Khánh Trung, giảng
viên Bộ môn Quản trị kinh doanh, khoa Kinh tế - Luật, Đại
học Quốc gia Tp.HCM khẳng định: đó chính là kênh phân phối.
Lựa chọn của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay không chỉ
hướng tới giá cả, chất lượng mà c̣n xem trọng sự tiện lợi và
dễ mua, tức là đang hướng tới vấn đề phân phối của nhà sản
xuất. Kết quả điều tra của một cơ quan báo chí mới đây cho
thấy, 36% người tiêu dùng cho rằng yếu tố quan trọng hàng
đầu ảnh hưởng tới quyết định mua hàng là sự dễ mua, tức là
kênh phân phối; tiếp theo là thương hiệu: 31,7%; giá cả:
17,5%; chất lượng: 3,9%; khuyến măi: 2,4%; mẫu mă: 2,1%; sản
phẩm mới: 1,7%; và các lư do khác: 4,7%.
Mất dần thị phần và kênh phân phối
Từ các ngôi chợ truyền thống, các cửa hàng tạp hóa, ngày nay
hệ thống phân phối tại Việt Nam đă có những bước
chuyển ḿnh mạnh mẽ. Hàng loạt siêu thị, trung tâm thương
mại, đến các chuỗi cửa hàng bán lẻ đă và đang xuất hiện. Các
mô h́nh phân phối hiện đại đang phát triển nhanh chóng và
cạnh tranh trực diện với các loại h́nh phân phối cũ.
Cơ cấu bán lẻ đă có sự đôỉ mới đáng kể, từ chỗ 100% hàng hóa
bán lẻ thông qua các cơ sở bán lẻ truyền thống, đến năm
2006, theo điều tra chỉ c̣n khoảng 40% hàng hóa bán lẻ qua
chợ, 44% qua các cửa hàng bán lẻ truyền thống và khoảng 6%
do nhà sản xuất bán thẳng đến tay người tiêu dùng. C̣n lại
có khoảng 16% qua các loại h́nh tổ chức bán lẻ hiện đại (nếu
tính riêng ở các đô thị lớn tỷ trọng lên tới 20%), c̣n lại
là các h́nh thức bán hàng không thông qua cửa hàng (như bán
qua ti vi, bán hàng trực tuyến, máy bán hàng tự động).
Ông Nguyễn Khánh Trung nhận xét: mặc dù tốc độ tăng trưởng
của kênh phân phối hiện đại hàng năm đều trên 20%, nhưng
doanh số trên tổng mức bán lẻ chỉ chiếm khoảng 10%. Điều đó
nói lên rằng ảnh hưởng của loại h́nh phân phối truyền thống
vẫn c̣n rất lớn, dù nó đă bị thu hẹp thị phần nhiều hơn so
với trước đây.
Cũng có một thực tế vẫn đang diễn ra là các doanh nghiệp
Việt Nam đang mất dần kênh phân phối chợ. Trước đây lượng
hàng hóa bán qua các chợ của các doanh nghiệp Việt Nam
thường ở mức trên 50%, nhưng giờ đây, con số này đă sụt giảm
đáng kể, thậm chí có công ty chỉ c̣n bán được ở chợ khoảng
1% sản phẩm.
Chính sự xâm nhập của các công ty nước ngoài là nguyên nhân
chính của thực tế vừa nêu. Với tiềm lực tài chính mạnh, kinh
nghiệm tổ chức bán hàng chuyên nghiệp, họ đă khiến nhiều
nhăn hàng tiêu dùng trong nước phải chao đảo. Cùng với việc
thực hiện chiến lược “đẩy”, các công ty nước ngoài c̣n áp
dụng chiến lược “kéo” với các chiêu quảng cáo, khuyến măi
người tiêu dùng.
Số mặt hàng Việt Nam có chỗ đứng tại siêu thị không nhiều,
v́ nhiều yêu cầu mà doanh nghiệp không đáp ứng được về thời
gian giao hàng, quy cách bao b́, vận chuyển. Bán hàng trực
tuyến chỉ mới ở giai đoạn h́nh thành. Các siêu thị, trung
tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi đang tăng trưởng. Các cửa
hàng tạp hóa rơi vào giai đoạn băo ḥa và chợ bắt đầu giai
đoạn suy thoái.
Đâu là giải pháp?
Theo ông Trung, tuỳ theo mặt hàng kinh doanh mà doanh nghiệp
sẽ chọn kênh phân phối trọng điểm. Đối với các mặt hàng thực
phẩm chế biến th́ tập trung vào siêu thị, bánh kẹo th́ trọng
điểm phân phối là các cửa hàng tạp hóa. Áp dụng chiến lược
“vết dầu loang”: đẩy mạnh tiêu thụ từ các thị trường, khu
vực trọng điểm, sau lan dần ra các thị trường và khu vực
tiềm năng khác.
Ví dụ: kinh doanh nước giải khát đóng chai nên bắt đầu từ
các thành phố lớn, sau đó mới phát triển ở các khu vực khác.
Tăng chất lượng phân phối ở các kênh truyền thống: thực hiện
chiến lược đẩy và kéo bao gồm cả chiết khấu cho người bán và
khuyến măi đến người mua. Đồng thời xây dựng h́nh ảnh thương
hiệu bằng các băng rôn, bảng hiệu.
Nhà sản xuất cần tăng cường sự liên kết với các cấp trung
gian bằng các chế độ như chiết khấu thường xuyên và rộng răi,
trả chậm, chế độ trả lại hàng hóa nếu nhà bán lẻ không bán
được hàng. Thiết kế và quản lư kênh phân phối phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
Ông Trung nói “Về lâu dài, để giữ được lợi thế với các công
ty nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam không c̣n cách nào
hơn là phải liên kết lại với nhau. Liên kết cả theo hàng
ngang và hàng dọc, nghĩa là các doanh nghiệp cùng một nhóm
ngành liên kết lại với nhau, đồng thời nhà sản xuất cũng
liên kết với nhà phân phối để tạo nên sức mạnh tổng thể”.
Các nhà sản xuất khi liên kết sẽ tận dụng được nguồn tài
nguyên và lợi thế của nhau để cùng phát triển. Chẳng hạn
công ty thực phẩm 1 có lợi thế về nhân lực, công ty thực
phẩm 2 có lợi thế về vốn. Khi liên kết với nhau có thể triển
khai các chiến lược marketing một cách toàn diện. Quan trọng
nhất là các kênh phân phối của những nhà sản xuất cũng liên
kết lại không hoạt động riêng rẽ như trước, chắc chắn sẽ tạo
nên chỗ đứng vững chăi trên thị trường, không c̣n e ngại các
công ty nước ngoài, ông Trung giải thích thêm.
Hiện nay đă có một số dự án liên kết giữa các nhà phân phối
như liên minh chiến lược VDC (Trung tâm phân phối Việt Nam)
do CoopMart, Hapro, Phú Thái và Satra thành lập. Tuy nhiên,
c̣n có những khó khăn khi các nhà sản xuất và phân phôí
không muốn chia sẻ lợi ích, e ngại mất lợi nhuận và thị phần
khi liên kết.
Để tránh e ngại này, nhất thiết cần có sự cân bằng về quyền
lực và lợi ích giữa các bên tham gia. Sự cân bằng “quyền lực”
thể hiện ở doanh số, thị phần, lợi nhuận, quyền trưng bày,
quyền phân phối. Mỗi thành viên tham gia với mức độ nào sẽ
nhận kết quả tương xứng với mức độ đó.
(Theo Vneconomy)
|
 |